Những rào cản đối với phát triển kinh tế thể thao

08:50 - 18/05/2020

Chúng ta đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của thể dục thể thao (TDTT) đối với phát triển con người và kinh tế - xã hội. Song, để có được giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển thể thao, gắn với với kinh tế thể thao (KTTT) để thúc đẩy kinh tế từ chủ trương của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước thì rất cần sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, nhận thức của xã hội cũng như sẽ phải vượt qua một số những rào cản nhất định.

Hình ảnh: Những rào cản đối với phát triển kinh tế thể thao số 1


 

Thực trạng xã hội hóa TDTT

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới công tác TDTT và đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm phát triển sự nghiệp TDTT trong đó có KTTT. Bên cạnh đó là nhiều chủ trương, chính sách được ban hành cũng như từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, huy động các nguồn lực để phát triển TDTT. Những chủ trương, chính sách được ban hành trong thời gian qua là định hướng quan trọng và cũng là hành lang pháp lý tạo cơ sở cho TDTT phát triển đúng hướng.

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 xác định: “Khuyến khích các tổ chức xã hội, các cơ sở thể thao ngoài công lập tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao. Quan tâm phát triển công nghiệp dụng cụ, trang thiết bị thể thao và các hoạt động kinh tế phù hợp để tạo nguồn thu trong thể thao”.

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực TDTT đã bước đầu đi vào đời sống và phát huy tác dụng, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của phong trào TDTT nước nhà, đặc biệt là phong trào TDTT quần chúng và tổ chức thi đấu thể thao.

Nhiều hộ gia đình ở thành phố mở cửa hàng kinh doanh các sản phẩm TDTT sản xuất trong và ngoài nước như: giầy, các loạt vợt bóng bàn, cầu lông, tennis, trang phục... Nhiều thành phần kinh tế đã tham gia sản xuất và cung ứng các sản phẩm thể thao. Bên cạnh đó, hoạt động dịch vụ thể thao phát triển mạnh mẽ như: cho thuê sân vận động, quần vợt, cầu lông, bóng đá cỏ nhân tạo, bể bơi của các cơ sở công lập cấp quận, thành phố và dịp cuối tuần, ngày lễ để tổ chức thi đấu thể thao cho các đối tượng học sinh, sinh viên, công nhân viên chức... diễn ra nhộn nhịp.

Thị trường dịch vụ tổ chức thi đấu thể thao cấp toàn quốc và quốc tế đã có sức hút các doanh nghiệp nhằm trao đổi thương quyền có giá trị kinh tế đáng kể và góp phần cải thiện, nâng cao mức thu nhập cho VĐV, từ đó đã thúc đẩy phát triển loại hình thể thao chuyên nghiệp nâng cao thành tích thể thao.

Đối với các tổ chức hội hoạt động trong lĩnh vực thể thao, nguồn thu từ hoạt động tài trợ, quảng cáo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong những năm qua, các Liên đoàn, Hiệp hội thể thao quốc gia ở nước ta đều đưa ra những chiến lược, biện pháp tiếp cận để từng bước nâng cao nguồn thu từ các hoạt động tài trợ, quảng cáo, thông qua việc khai thác các sự kiện thể thao.

Điển hình là Liên đoàn Bóng đá Việt Nam, với nguồn thu năm 2017 vào khoảng 65 tỷ đồng, trong đó tài trợ bằng hiện vật trị giá 10,6 tỷ đồng. Bóng đá là môn thể thao nhận được sự quan tâm rộng rãi của xã hội nên khá thuận lợi trong việc khai thác tài trợ, quảng cáo. Sau bóng đá là quần vợt, với mức thu từ hoạt động tài trợ, quảng cáo năm 2017 khoảng 5,78 tỷ đồng. Tuy nhiên, nếu xét về tỷ trọng thu từ hoạt động tài trợ/quảng cáo trên tổng doanh thu thì quần vợt đứng trên bóng đá (75,6% so với 35,9%).

Tăng cường quy phạm pháp luật trong KTTT

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013 chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 08-NQTW trong đó nhiệm vụ, giải pháp về “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về TDTT” đã nêu vấn đề: “Xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách phát triển kinh tế thể thao, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động kinh doanh, sản xuất, tổ chức dịch vụ thể dục, thể thao”. Các nội dung liên quan đến KTTT cũng được thể chế hóa tại các văn bản pháp luật chuyên ngành như: Luật Thể dục, thể thao; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao; các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật...

Hệ thống pháp luật, chính sách KTTT đã được xây dựng tương đối đồng bộ với hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung, đáp ứng được ở mức độ nhất định yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Pháp luật đã ghi nhận đầy đủ các loại chủ thể tham gia quan hệ thị trường, các loại chủ thể này được ghi nhận chủ yếu trong Luật Thể dục, thể thao, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao; đã xác định trật tự và môi trường kinh doanh lành mạnh cho mọi hoạt động kinh tế trong lĩnh vực TDTT.

Bên cạnh đó, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để các doanh nghiệp tiếp cận, ứng dụng công nghệ, từng bước nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp sản xuất dụng cụ thể thao với phương châm: “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”. Chú trọng phát triển thị trường trong nước, chủ động kết nối, phát triển các kênh phân phối sản phẩm hàng hóa của Việt Nam.

Những rào cản cần giải quyết

Theo TS. Đoàn Ngọc Xuân - Vụ trưởng Vụ Xã hội, Ban Kinh tế Trung ương: “Để KTTT đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế, đòi hỏi phải sớm hoàn thiện hệ thống văn bản quy pháp pháp luật, tạo điều kiện để huy động mọi nguồn lực, đầu tư phát triển TDTT và thị trường thể thao. Đồng thời, Nhà nước cần chủ động điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thể thao nói chung cũng như từng loại hình thể thao cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi vùng miền, địa phương”.

Để phát triển KTTT cũng đang gặp phải những rào cản nhất định dù vai trò của nó là không thể phủ nhận. Theo đó, Tổng cục TDTT cũng đã đưa ra một số vấn đề cần có sự chung tay của cả xã hội.

Mặc dù nền kinh tế nước ta trong giai đoạn vừa qua đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, đời sống của nhân dân được cải thiện và nâng lên đáng kể, tuy nhiên, về cơ bản thu nhập bình quân của người dân vẫn còn thấp so với nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, mức độ chi tiêu của người dân cho các nhu cầu liên quan đến chăm sóc sức khỏe, tập luyện TDTT còn thấp.

Một số cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành và đoàn thể xã hội ở địa phương do hạn chế trong nhận thức về KTTT, chưa thực sự quan tâm nắm bắt đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển TDTT, do vậy, chưa chủ động trong việc xây dựng kế hoạch cụ thể, sát với tình hình thực tế để triển khai phát triển KTTT; chưa nhìn nhận đúng vai trò của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội trong việc tham gia vào các hoạt động TDTT.

Hiện tại, cơ chế chính sách phát triển KTTT chưa rõ ràng, thiếu tính đột phá. Hạn chế trong thực thi chính sách xã hội hóa, môi trường kinh doanh trong lĩnh vực TDTT chưa thật sự hấp dẫn. Mặc dù, Chính phủ đã có chính sách và biện pháp thúc đẩy xã hội hóa trong lĩnh vực TDTT song thủ tục và quy định cho phép hưởng ưu đãi về thuế, phí còn nhiều bất cập, nhiều rào cản về chính sách liên quan đến khả năng tiếp cận đất đai, tín dụng của các doanh nghiệp thể thao, CLB thể thao chuyên nghiệp.

Việc các chính sách thể chế chủ trương xã hội hóa còn chậm, chưa kịp thời và phù hợp với điều kiện thực tiễn. Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhu cầu tập luyện TDTT vẫn còn thiếu và chất lượng chưa cao. Chất lượng các hàng hóa dịch vụ TDTT chưa thực sự tốt và đa dạng. Nước ta hiện nay vẫn còn thiếu các doanh nghiệp chuyên về thể thao để có thể cung ứng các hàng hóa cũng như dịch vụ thể thao.

Mạnh Quang

TẠP CHÍ THỂ THAO

Cơ quan của Tổng cục TDTT - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Địa chỉ: Tầng 5 - Nhà E, Tổng cục TDTT, 36 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội.

Số ĐT: 04.3.8569520 - Fax: 04.3.7473941. Giấy phép số: 107/GP-TTĐT, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/5/2010.

Tổng Biên tập: Lý Đức Thùy