Yếu tố kinh tế trong thể thao

08:10 - 04/12/2019

Thời gian gần đây, thể thao thực sự đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Nga. Thể thao đã, đang và sẽ là một trong những ngành kinh tế thu hút nguồn nhân lực, vật lực đáng kể trong nền kinh tế quốc dân. Xu thế chung của thể thao thế giới đó chính là quá trình xây dựng, hoàn thiện mô hình, cơ chế, cách thức quản lý mới. Đồng thời từng bước tạo điều kiện và thúc đẩy quá trình thương mại hóa, nhà nghề hóa thể thao.

Từ sự thay đổi về nhận thức

Trong một thời gian rất dài, ngay cả ở các nước phương Tây, thể thao và kinh tế được coi là 2 lĩnh vực hoàn toàn biệt lập với nhau. Người ta đã từng quan niệm rằng, thể thao là sở thích, là nơi để con người sử dụng thời gian nhàn rỗi. Theo họ, thể thao không có một điểm nào chung với các hoạt động kinh tế, với hoạt động nghề nghiệp hay hoạt động thương mại. Đến nay, mọi thứ đã thay đổi căn bản và được khẳng định: Hoạt động thể thao có thể đem lại nhiều tiền, tất nhiên trong một môi trường và điều kiện cạnh tranh vô cùng khốc liệt, nhưng những tài nguyên, nguồn nhân lực thể thao truyền thống đang ngày cạn kiệt, bị hạn chế.

Thể thao là lĩnh vực hoạt động cần thiết không chỉ đối với các vận động viên (VĐV), huấn luyện viên (HLV) nhà nghề, mà còn là lĩnh vực hoạt động cần thiết đối với các nhà kinh tế, nhà quản lý, luật sư, nhà xã hội học... Hoạt động thể thao động chạm tới tất cả các lĩnh vực như: thể thao trình diễn, thể thao nhà nghề, liên đoàn, hiệp hội thể thao, câu lạc bộ thể thao, thể thao thương mại, cơ chế quản lý, điều hành hoạt động thể thao từ trung ương đến địa phương.

Thể thao cần thiết đối với mọi người dân nhưng không phải ai cũng có những hiểu biết căn bản, cụ thể về cơ chế tài chính, cách thức quản lý và điều hành các hoạt động thể dục thể thao (TDTT), công tác marketing hay những am hiểu về các sản nghiệp thể thao và văn hoá thể thao. Trên thực tế, các hình thức thể hiện khác nhau của hoạt động TDTT là vô cùng phong phú và đa dạng, có mối liên hệ mật thiết và sự tác động qua lại hữu cơ với nền kinh tế, cơ chế quản lý và điều hành; Bên cạnh đó, có rất nhiều điểm tương đồng trên phương diện lý luận giữa hoạt động TDTT với hoạt động kinh tế, hoạt động quản lý và điều hành. Do vậy, có thể áp dụng những lý luận chung ấy vào các hoạt động TDTT. Chúng ta có đủ căn cứ thực tiễn và lý luận để khẳng định, kinh tế thể thao (KTTT) là một ngành khoa học không chỉ nghiên cứu thuần tuý các yếu tố kinh tế trong thể thao, mà ở cả các vấn đề khác như: xã hội học, tâm lý học, luật học. Các tổ chức thể thao phải được nghiên cứu, xem xét trong bối cảnh kinh tế. Hiển nhiên, cho đến nay, những vấn đề trong KTTT vẫn còn rất nhiều điều cần nghiên cứu và đòi hỏi những luận giải có căn cứ khoa học và mang tính hệ thống. Vấn đề đầu tiên phải kể đến, đó chính là: quản lý thể thao, nguồn nhân lực thể thao, tài trợ thể thao. Có thể khẳng định, kinh tế học thể thao với tính chất là một ngành khoa học ở nước Nga chưa thật hoàn thiện, nói chính xác hơn là chưa có. Nhưng quá trình hình thành, phát triển một số yếu tố với tư cách là một trong những bộ phận cấu thành của khoa học kinh tế nói chung đã xuất hiện và đang có xu hướng và nhịp độ phát triển nhanh. Cùng với xu thế chung đó, KTTT cần bộc lộ những yếu tố đặc thù của mình.

Ở Đức, một trong những đặc thù nổi bật, mang tính chủ đạo của KTTT là tình trạng các câu lạc bộ, các liên đoàn, hiệp hội thể thao; ở Mỹ - hình mẫu các CLB thể thao nhà nghề.

Ở Nga, KTTT đang trong giai đoạn xuất hiện, hình thành như một khoa học cần thiết để vận dụng, sử dụng, khai thác có hiệu quả những nhân lực, vật lực, thị trường thể thao đầy tiềm năng đã được xây dựng, tích luỹ từ các thế hệ trước; Chứng tỏ được khả năng dự trữ nguồn nhân lực thể thao và kết quả cuối cùng là tăng cường và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. Hiện tại, khi người dân càng ngày càng có xu hướng tìm kiếm các biện pháp cân bằng giữa streess và thư giãn, ngày càng có mong muốn phát hiện ra những năng lực bản thân, năng khiếu thể thao, kiếm tìm những biện pháp bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái, xung mãn. TDTT và các hình thức thể hiện cụ thể của nó bao gồm hệ thống những tri thức hình thành, xuất hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với các giai đoạn phát triển của bất kỳ xã hội hiện đại nào. Nếu chúng ta mong muốn cho các thế hệ mai sau có sức khoẻ tốt thì ngay bây giờ cần phải đào tạo đội ngũ chuyên gia có trình độ và hiểu biết về thể thao, quan niệm và nhận thức đúng đắn về các hoạt động thể thao có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quan trọng hơn những cái mà chúng ta vẫn thường đề cao - đó là kỷ lục, là những tấm huy chương. Đúng vậy! nói tới thể thao, nhất là thể thao đỉnh cao, đi liền với nó là kỷ lục, là huy chương, là các giải đấu lớn nhưng đồng nhất giữa chúng với nhau là một sai lầm tệ hại. Thể thao - là một bộ phận của kinh tế và được tổ chức, quản lý, điều hành trong các lĩnh vực: nhà nghề, thương mại... Nó đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia, phương pháp luận và các hình thức tương thích với nó.

Điều 2 trong Bộ luật TDTT của Cộng hoà Liên bang Nga quy định: Thể thao chuyên nghiệp - là một trong những loại hình hoạt động kinh doanh với mục đích, thoả mãn lợi ích của các tổ chức thể thao, VĐV chuyên nghiệp, đối tượng chọn thể thao là nghề nghiệp của mình và cuối cùng đáp ứng nhu cầu thưởng thức trình diễn, thi đấu thể thao của nhân dân; VĐV - là người tham gia tập luyện và thi đấu thể thao một cách hệ thống.

Cơ cấu tổ chức thể thao chuyên nghiệp chịu sự quy định bởi tính đặc thù của mỗi môn thể thao khác nhau. Tổ chức thể thao chuyên nghiệp có thể là thành viên hiệp hội, liên hiệp, liên đoàn thể thao chuyên nghiệp, của các câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp, các đội thể thao; VĐV thể thao chuyên nghiệp có hợp đồng hoạt động thể thao theo thể lệ và quy định của hiệp hội thể thao chuyên nghiệp.

Để đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, VĐV chuyên nghiệp, HLV theo quy định của luật liên bang “về các hiệp hội nghề nghiệp, quyền lợi của họ và sự đảm bảo hành nghề” có thể liên kết cùng nhau trong tổ chức nghiệp đoàn.

Hoạt động của VĐV chuyên nghiệp được Luật Lao động Liên bang điều chỉnh, cũng như các quy định trong Điều lệ hoạt động của tổ chức, hiệp hội, liên đoàn thể thao được sự phê chuẩn và thông qua của hiệp hội thể thao chuyên nghiệp.

Hợp đồng hoạt động thể thao được ký kết và thực hiện trên cơ sở Luật Lao động Liên bang Nga, được thể hiện dưới dạng văn bản viết giữa một bên là VĐV chuyên nghiệp (HLV, chuyên gia) và một bên là lãnh đạo tổ chức TDTT, trong đó bao gồm câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp, đội thể thao, dưới sự quản lý của liên đoàn thể thao liên bang Nga, trong trường hợp VĐV là thành viên đội tuyển liên bang. Hợp đồng hoạt động thể thao cần thiết phải nêu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội của VĐV, các điều kiện thực hiện và phá bỏ hợp đồng. Trong nội dung bản hợp đồng hoạt động thể thao có thể có những điều kiện, trách nhiệm, nghĩa vụ khác. Cơ quan TDTT có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện để VĐV tập luyện và thi đấu, trả tiền công kịp thời, thực hiện các trách nhiệm khác đã được quy định trong hợp đồng không trái với những quy định chung trong pháp luật Liên bang hiện hành.

Cơ chế thị trường quy định tính chất, hình thức, cơ cấu tổ chức của hoạt động thể thao nhà nghề Cộng hoà Liên bang Nga, sử dụng hệ thống dịch vụ VĐV. Các câu lạc bộ thể thao nhà nghề, cá nhân và tập thể sở hữu câu lạc bộ, VĐV nhà nghề, VĐV nghiệp dư tài năng là chủ thể cơ cấu thể thao nhà nghề nói chung.

Sở hữu những VĐV tài năng, trong nhiều trường hợp đều đem lại lợi nhuận đáng kể cho câu lạc bộ nói chung và chủ sở hữu câu lạc bộ nói riêng. Những khoản lợi nhuận có thể được tạo ra bởi quá trình sử dụng trực tiếp các hoạt động của các VĐV tài năng đang có hợp đồng hoạt động TDTT với câu lạc bộ, hoặc được tạo ra bởi các hợp đồng chuyển nhượng VĐV.

VĐV nhà nghề và các câu lạc bộ nhà nghề - hai yếu tố cơ bản của KTTT nhà nghề vĩ mô. VĐV không những có quyền mà còn được tạo mọi điều kiện tốt nhất để sử dụng mọi khả năng, cơ hội tạo ra lợi nhuận từ việc chuyển nhượng trên thị trường chuyển nhượng VĐV. Các câu lạc bộ thông qua các hợp đồng chuyển nhượng, thi đấu, quảng cáo, bản quyền truyền hình... để tạo ra và từng bước tăng thêm lợi nhuận.

Một lý thuyết mới (không truyền thống) về mô hình công ty được xây dựng trên nguyên tắc: lợi nhuận tối đa là mục đích tối thượng. Mô hình này xây dựng trên cơ sở các câu lạc bộ thể thao nhà nghề phương Tây. Nhiệm vụ của công ty (hãng) được xây dựng theo công thức sau:

Max Π (X) = p f (X) - w x trong điều kiện X > 5

Π (x): Mục đích của lợi nhuận

P: Giá trị giải thưởng của giải

p f: Số lượng huy chương

w: Giá trị của VĐV trong CLB

Max: Tối đa

X: Sự thay đổi về chất đối với các VĐV tài năng

Câu lạc bộ có thể chuyển nhượng VĐV theo trị giá của hợp đồng chuyển nhượng VĐV ở các nước phương Tây, từ đó tạo ra lợi nhuận cho câu lạc bộ. Đồng thời, câu lạc bộ cũng có thể nhận được lợi nhuận từ việc tổ chức các giải thi đấu. Lý luận kinh tế về nhu cầu cá nhân đóng vai trò mô hình hoá hoạt động của các chủ sở hữu câu lạc bộ, hướng tới mục đích lợi nhuận tối đa, hướng tới lợi ích tối thượng. Lợi ích mà các chủ sở hữu câu lạc bộ nhận được sẽ bị hạn chế bởi ngân quỹ của câu lạc bộ theo nguyên tắc sau:

Wr + Sn = Pc

Wr: Tổng thu nhập từ việc chuyển nhượng VĐV

Sn: Tổng thu nhập từ việc tổ chức các giải thi đấu

Pc: Tổng thu nhập chung

Nhiệm vụ cơ bản của các nghiên cứu kinh tế là chỉ ra được sự cân bằng (hài hoà) giữa lợi nhuận tối đa với lợi ích (ích lợi).

Xuất phát từ quan điểm lợi nhuận tối đa, chủ thể sở hữu câu lạc bộ thuê VĐV, đó là những người đem lại thu nhập cao nhất từ những cách thức khác nhau (thông qua các hợp đồng chuyển nhượng VĐV, cho thuê...). Xuất phát từ quan điểm lợi ích (ích lợi) tối đa, chủ thể sở hữu câu lạc bộ nhận được lợi nhuận từ giải thưởng các giải thi đấu thể thao và tiếp tục tìm kiếm những hợp đồng mới cho đến khi giới hạn lợi ích từ các giải thưởng vượt xa giới hạn giá trị các hợp đồng.

Trong trường hợp chủ sở hữu các câu lạc bộ có được lợi nhuận tối đa, khi đó họ có đầy đủ cơ sở để hy vọng làm chủ được các khoản thu nhập ngắn hạn (tức thì). Trong trường hợp chủ sở hữu các câu lạc bộ phấn đấu tới lợi ích tối đa, họ cần thiết phải tính đến các khoản thu nhập dài hạn thông qua các biện pháp và các giải pháp khác nhau như: phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, ưu đãi VĐV tài năng... Sự khác nhau căn bản giữa 2 mô hình ở quan điểm phân chia thu nhập của câu lạc bộ và việc trả lương cho các VĐV.

Nghiên cứu của chúng tôi chịu sự ảnh hưởng các mô hình kinh tế hiện đại dựa trên các thành tựu có được giữa 2 yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô. Trong thực tế hoạt động thể thao nhà nghề đã chứng minh, lợi ích tối đa đang dần thay thế lợi nhuận tối đa, bên cạnh đó là tăng cường xu thế cạnh tranh giữa các giải đấu, giữa các câu lạc bộ.

PTS. PGS. VS Rossaguik - Doãn Thị Kim Oanh (Biên dịch)

TẠP CHÍ THỂ THAO

Cơ quan của Tổng cục TDTT - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Địa chỉ: Tầng 5 - Nhà E, Tổng cục TDTT, 36 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội.

Số ĐT: 04.3.8569520 - Fax: 04.3.7473941. Giấy phép số: 107/GP-TTĐT, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/5/2010.

Tổng Biên tập: Lý Đức Thùy